Đặt Trường PTTH Vĩnh Linh làm trang chủ
Chào mừng ngày Học sinh Sinh viên 9/1
Giới thiệu trường

TRƯỜNG THPT VĨNH LINH – 50 NĂM

 Vĩnh Linh – một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, nơi có sông Bến Hải và cầu Hiền lương một thời là chứng tích của nỗi đau chia cắt , là một vùng quê có lịch sử và truyền thống oai hùng gắn liền với từng bước đi lên của sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trải qua biến thiên lịch sử với bao lần đổi tên, tách nhập.

I.TỪ VÙNG QUÊ MỘT THỜI LÀ LUỸ THÉP
 
Vĩnh Linh – một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Trị, nơi có sông Bến Hải và cầu Hiền lương một thời là chứng tích của nỗi đau chia cắt , là một vùng quê có lịch sử và truyền thống oai hùng gắn liền với từng bước đi lên của sự nghiệp cách mạng của dân tộc, trải qua biến thiên lịch sử với bao lần đổi tên, tách nhập. Một vùng quê nối liền hai miền Nam Bắc, luôn phải chịu đựng sự khắc nghiệt của gió lào cát trắng bao đời hun nóng mặt đất và con người song cũng vùng quê này cho con người những hạt cơm thơm từ cánh đồng phì nhiêu Lâm – Long – Sơn – Thuỷ, những quả dưa xanh vỏ đỏ lòng làm mát người dân tứ xứ, hạt tiêu thơm, cao su cho dòng nhựa quý từ vùng đất đỏ, làn nước trong xanh của bãi tắm Cửa Tùng ...
Từ bao đời, Con người Vĩnh Linh được tôi luyện trong sản xuất và chiến đấu trở nên bản lĩnh kiên cường, biết hi sinh vì nghĩa lớn, vì lẽ phải, vì độc lập tự do của dân tộc, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương, con người Vĩnh Linh trọng tình nghĩa, biết nhường cơm sẻ áo cho nhau, luôn nuôi dưỡng niềm tin vào tương lai trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất. Quê hương Vĩnh Linh tự hào với vị trí tuyến đầu Tổ quốc – Luỹ thép kiên cường, lập được những những thành tích xuất sắc, vinh dự đón nhận những phần thưởng cao quý: Danh hiệu “Vĩnh Linh luỹ thép Anh hùng”(1/1/1967), Huân chương Độc lập hạng Nhì, hạng Ba; 41 đơn vị, 18 cá nhân được phong tặng danh hiệu AHLLVT, AHLĐ, 216 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8 lần Bác Hồ gửi thư khen quân và dân Vĩnh Linh chiến đấu và chiến thắng . Trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, với 4.204 liệt sĩ, 1.857 thương binh, 28.000 lượt người được tặng thưởng huân huy chương, 26.143 người có công, tham gia hoạt động kháng chiến được hưởng trợ cấp cùng toàn thể người dân trên quê hương Vĩnh Linh đã làm nên trang sử chói lọi về một vùng luỹ thép trong sự ngưỡng mộ, ca ngợi và tin yêu của nhân dân cả nước và bạn bè năm châu.
Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với bản lĩnh, nghị lực phi thường, người dân Vĩnh Linh đã và đang từng ngày từng giờ biến quê hương luỹ thép chiến thắng thành luỹ hoa tràn đầy sức sống. Nhiều điển hình xuất hiện trong phong trào xây dựng quê hương: Hai đơn vị AHLĐ, nhiều đơn vị được tặng thưởng Huân chương các loại, Bằng khen của lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp. Hiện tại, dưới sự lãnh đạo của Huyện Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Linh đang tích cực xây dựng quê hương giàu mạnh, tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống, phát triển về kinh tế, mạnh về an ninh quốc phòng, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hoá”.
Trường THPT Vĩnh Linh – đứa con của quê hương , ra đời từ vùng quê một thuở đói nghèo, trưởng thành từ trong khói lửa của cuộc chiến đấu khốc liệt với quân thù, phát triển trong bức tranh quê hương đang phấn đấu hồi sinh, thay da đổi thịt từng ngày từng giờ; trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, đã biết kế thừa và phát huy truyển thống oai hùng, đẹp đẽ của quê hương, tạo được bề dày truyền thống đáng tự hào kiêu hãnh bậc nhất của ngành Giáo dục – Đào tạo Quảng Trị
 II. ĐẾN MÁI TRƯỜNG VỚI 50 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Sau hiệp định Giơne vơ, đất nước tạm thời bị chia cắt, Vĩnh Linh trở thành Đặc khu tiền đồn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Đặc khu Vĩnh Linh được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực, trong đó có sự nghiệp giáo dục. Đến năm 1959, sự phát triển các cấp học đặt ra yêu cầu cần thiết phải có trường cấp 3 phổ thông. Ngày 15 tháng 9 năm 1959, UBHC Khu vực Vĩnh Linh ra Quyết định số 919/QĐ-UB thành lập trường cấp 2-3 Vĩnh Linh. Năm học 1960-1961, trường chính thức tách riêng, mang tên trường cấp 3 Vĩnh Linh, là trường THPT đầu tiên của Tỉnh Quảng Trị.
Cơ cấu tổ chức của nhà trường lúc mới thành lập:
 Lãnh đạo nhà trường: Thầy Trần Duy Mân – P. Trưởng ty GD Vĩnh Linh làm Hiệu trưởng; thầy Nguyễn Luận làm bí thư chi bộ.
 Đội ngũ giáo viên trường cấp 2-3 vĩnh Linh gồm 14 người trong đó có 6 thầy giáo được điều từ các tỉnh hoặc trường ĐHSP Hà nội(thầy Đặng Khắc Nhân, thầy Lê Duy Minh, thầy Hoàng Trọng Điều, thầy Nguyễn Đề, thầy Hoàng Lê Sơn, thầy Trần Văn Trà)
 Nhân viên văn phòng gồm có: Bác Nguyễn Hoè, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Luật
Năm 1960, thầy Trần Duy Mân chuyển công tác, thầy Nguyễn Văn Tu, Phó Trưởng Ty GD kiêm Hiệu trưởng nhà trường.
Từ năm học 1961 – 1962 đến năm học 1963 – 1964, thầy Trần Đình Kham làm quyền Hiệu trưởng.
Năm đầu tiên trường có 2 lớp 8 với 83 học sinh. Được thành lập, trường có nhiệm vụ giáo dục con em Vĩnh Linh và con em cán bộ miền Nam tập kết ở 2 tỉnh Quảng Trị – Thừa Thiên nhằm đào tạo nguồn lực tương lai cho đất nước. Sau này, những cán bộ lãnh đạo, nhà trí thức ở các tỉnh, các trường Đại học như Nguyễn Xuân Lý, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Thế Truyền, Trần Hành,...là học sinh miền Nam đều được giáo dục và trưởng thành từ mái trường cấp 3 Vĩnh Linh.
 Trường đóng trên đồi Lèo heo lộng gió, nhìn ra đồng Hồ xá, có Quốc lộ 1A đi qua. Ngay từ khi thành lập, trường có cơ sở vật chất khá đầy đủ và bề thế: dãy phòng học 2 tầng; nhà hiệu bộ, văn phòng thư viện, vườn trường, sân tập TDTT.... Hình ảnh trường cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục nơi đầu cầu giới tuyến.
Từ năm học 1961 – 1962, trường tiếp tục phát triển về quy mô, đã có đủ 3 khối lớp; lực lượng CBGV tiếp tục được bổ sung theo sự điều động của Bộ giáo dục. Nhiều thầy cô giáo là những thủ khoa, á khoa của các trường ĐHSP tình nguyện về công tác ở trường cấp 3 Vĩnh Linh như cô Nguyễn Thị Mai, các thầy Nguyễn Khuân, Vũ Hùng, Lê Thanh Tuân, Trương Đình Lai, Trần Văn Bổng, Trần Bá Tân...về với trường bằng tất cả tâm huyết, gắn bó với mảnh đất giới tuyến, phát huy năng lực sư phạm góp phần khẳng định vị trí của trường là điểm sáng văn hoá giáo dục trên quê hương Vĩnh Linh. Các thầy cô để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc trong lòng các thế hệ học sinh. Mãi mãi về sau, các thế hệ học sinh được học với các thầy cô đều bày tỏ lòng kính trọng, ngưỡng mộ về tình thương yêu, đức hy sinh vì đàn em thân yêu của các thầy cô.
Những năm đầu mới thành lập, dẫu còn non trẻ, còn khó khăn nhiều bề, song trong không khí xây dựng CNXH và đấu tranh thống nhất nước nhà, trên mảnh đất đầu cầu giới tuyến, trường cấp 3 Vĩnh Linh không ngừng trưởng thành về mọi mặt, có nhiều đóng góp tích cực, sớm khẳng định là điểm sáng văn hoá – giáo dục của Đặc khu Vĩnh Linh:
 Với sự phấn đấu tích cực của thầy và trò, chất lượng đạo đức văn hoá không ngừng được nâng lên: 100% học sinh lên lớp; đa số học sinh tốt nghiệp và đỗ vào các trường ĐH – CĐ; các đội học sinh dự thi HSG miền Bắc đạt nhiều giải cao đáng được biểu dương: Giải Ba đồng đội Văn – Toán, giải Ba môn Văn, Toán cá nhân ; năm học 1962 - 1963 có trên hai trăm học sinh tốt nghiệp cấp 3, thầy giáo Lê Duy Minh được công nhận là một trong những giáo viên dạy giỏi Văn đầu tiên của miền Bắc, vinh dự được Bác Hồ tặng huy hiệu.
Trong phong trào đấu tranh đòi tổng tuyển cử, thống nhất đất nước, trường tham gia đấu tranh với nhiều hình thức như biểu tình đòi Mỹ – Diệm thực hiện hiệp định Jơnevơ, biểu diễn văn nghệ – TDTT bên bờ giới tuyến.... Mỗi thầy cô giáo, mỗi học sinh đều thể hiện ý thức tự giác tham gia đấu tranh hoà trong khí thế sôi sục cách mạng của quê hương.
Không chỉ dạy tốt, học tốt, nhà trường còn tham gia phong trào lao động sản xuất, phát huy vai trò là trung tâm văn hoá – giáo dục trong việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp (bèo hoa dâu phủ đồng ruộng, giống cây trồng mới...). Vườn thí nghiệm, xưởng trường phát huy vai trò và tác dụng trong việc truyền bá kiến thức, sản phẩm phục vụ đời sống nhân dân
Những năm tháng hoà bình ở trên mảnh đất đầu cầu giới tuyến là những năm tháng hoà trong không khí sôi nổi của quê hương, trường cấp III Vĩnh Linh xây dựng được phong trào văn văn nghệ – TDTT thực sự khởi sắc: đội bóng đá nam, bóng chuyền nam nữ, đội thể dục dụng cụ, đội văn nghệ nhà trường có nhiều đóng góp xuất sắc cho hoạt động VN-TDTT của Khu vực Vĩnh Linh . Những cầu thủ xuất sắc: Nguyễn Đình Khôi, Nguyễn Như Man, Dương Hùng, Hoàng Đức Vinh; những giọng hát hay như cô giáo Nguyễn Thị Mai, học sinh Trương Anh Tuấn, Nguyễn Thị Dinh...đã đóng góp xuất sắc cho phong trào chung của nhà trường.
Bên cạnh đó, nhận thức sâu sắc trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, học sinh của trường sẵn sàng lên đường nhập ngũ: Năm 1963, nhà trường có 34 học sinh tốt nghiệp lớp 10 gia nhập lực lượng công an vũ trang, 1964 nhiều học sinh cũng nhập ngũ, nhiều người sau này trở thành cán bộ chỉ huy trong lực lượng vũ trang, nhà văn Xuân Đức, đại tá Trần Sĩ Lừa cùng nhiều học sinh khác chưa kịp học xong chương trình lớp 10 sẵn sàng lên đường chiến đấu khi Tổ quốc gọi.
            Có thể khái quát: Trong những năm hoà bình, trường cấp 3 Vĩnh linh là điểm sáng văn hoá – giáo dục của Khu vực Vĩnh Linh, của miền Bắc XHCN. Điểm đáng quý, cần khẳng định là từ một trường nhỏ bé mới thành lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng uỷ, UBHC Khu vực, Ty Giáo dục Vĩnh Linh, với sự đồng tâm nhất trí, phấn đấu vươn lên không ngừng, nhà trường đã phát huy vai trò đóng góp tích cực cho quê hương.
Cuộc sống hoà bình không thể kéo dài bởi âm mưu phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai. Sự kiện vịnh Bắc bộ ngày 5 tháng 8 năm 1964 mở màn cho âm mưu leo thang đánh phá miền Bắc của đế quốc Mỹ va tay sai. 14h30 ngày 8 tháng 2 năm 1965, giặc Mỹ đánh phá Vĩnh Linh, huy động 82 lượt máy bay các loại (F.4H, F105, AD6; trực thăng HU1A, L.19...) ồ ạt ném bom xuống Vĩnh Linh. Trường cấp 3 Vĩnh Linh, một trong những điểm đầu tiên kẻ thù tập trung huỷ diệt, ngay từ trận đầu đã bị đánh sập hoàn toàn. Thầy giáo Lê Duy Minh hy sinh cùng 7 HS. Trường phải sơ tán về các xã, hình thành 3 phân hiệu: Phân hiệu ở Vĩnh Tân do thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành phụ trách; phân hiệu ở Vĩnh Lâm do thầy hiệu phó Lê Văn Khinh phụ trách; phân hiệu ở Vĩnh Tú – Vĩnh Nam do thầy hiệu phó Trần Đình Kham phụ trách
   Hoàn cảnh chiến tranh cực kỳ ác liệt và gian khổ, tất cả mọi hoạt động đều diễn ra dưới hầm chữ A, mái bằng, hào giao thông. Các thầy cô phải đi dạy ở những địa điểm cách nhau 15-20 km dưới làn bom đạn của kẻ thù. Những trọng điểm đánh phá của kẻ thù như dốc chợ Vang (Vĩnh Nam), Khe Su (Vĩnh Hoà), chợ Do (Vĩnh Tân), cầu Châu thị (Vĩnh lâm) luôn đe doạ sự sống của thầy và trò. Ở một vùng quê đánh Mỹ như Vĩnh Linh đã phải đối đầu với nhiều hướng tấn công của kẻ thù: máy bay dánh phá trên trời, pháo từ hạm đội 7 bắn vào, pháo bờ Nam bắn ra...; không thể tưởng tượng hết sự khốc liệt mà con người Vĩnh Linh, thầy trò trường cấp III Vĩnh Linh phải chịu đựng trong những ngày đánh Mỹ. Đã có những học sinh chết thương tâm như Trần Thị Lâu ở Vĩnh tú; Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Văn Nhị ở Vĩnh Sơn, Dương Văn Hoa ở Vĩnh Thuỷ...
Nhà trường tiếp tục duy trì nền nếp dạy và học ở các điểm sơ tán dưới sự chỉ đạo của ty Giáo dục, trong sự đùm bọc che chở của nhân dân địa phương. Các gia đình tự nguyện dành hầm cho thầy cô sống, cưu mang đùm bọc con em cán bộ miền Nam tập kết đang học tại trường. Chính vì vậy, chất lượng giáo dục tiếp tục đảm bảo, nhiều thành tích của nhà trường được khẳng định. Quy mô nhà trường tiếp tục được phát triển dù ở trong hoàn cảnh chiến tranh (năm học 1966-1967, trường có 750 học sinh cùng với đội ngũ gần 60 CBGV), chất lượng giáo dục được duy trì, đạt được nhiều thành tích đáng phấn khởi: trên 98% học sinh lên lớp và tốt nghiệp, học sinh Nguyễn Xuân Phùng đạt giải KK toán miền Bắc(1965)đội HSG Văn đạt giải Ba đồng đội cùng giải Ba cá nhân của học sinh Nguyễn Thị Bích Hải trong kỳ thi HSG miền Bắc (1966).
Cùng với việc duy trì, đảm bảo chất lượng dạy và học, nhà trường góp phần tích cực vào cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của giắc Mỹ. Thầy trò tham gia đào địa đạo, giao thông hào, trung đội tự vệ của nhà trường được thành lập gồm các thầy cô giáo đã từng ngoan cường chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ, học sinh về các địa phương tham gia dân quân du kích...Gương học sinh Lê Thị Hiệp bất chấp bom đạn dũng cảm bới hầm bị sập cứu người bị thương, về sau được nhà trường phát động học tập.
Năm 1967, trường vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Ba, nhận cờ thưởng của Bộ GD-ĐT; Bằng khen của Công đoàn giáo dục Việt Nam.
        Chiến tranh ngày càng ác liệt, giặc Mỹ huy động hàng ngàn lượt máy bay cùng với pháo bờ Nam ở căn cứ Cồn tiên, Dốc miếu, pháo hạm đội 7 đánh phá dữ dội nhằm huỷ diệt Vĩnh Linh, cắt đứt đường liên lạc huyết mạch giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Máy bay B.52 được huy động hàng chục đợt rải thảm xuống Vĩnh Linh với đủ loại bom. Sự mất mát đau thương diễn ra hàng ngày, hàng giờ (hầm địa đạo sâu trên 15m bị trúng bom sập tại Vĩnh quang, 81 người bị chết, nhiều người bị thương). Dữ dội và ác liệt song quân dân Vĩnh Linh vẫn kiên cường đứng vững trên tuyến đầu đánh Mỹ với nhiều chiến công vang dội.
Để đảm bảo an toàn cho các thế hệ tương lai, TW Đảng và Chính phủ quyết định sơ tán toàn bộ học sinh các cấp từ vỡ lòng, phổ thông đến học sinh sư phạm ở Khu vực Vĩnh Linh ra các tỉnh ngoài tiếp tục học tập. Kế hoạch trên được gọi là kế hoạch 8 (gọi tắt là K.8). Chiến dịch K.8 do P. Thủ tướng Trần Hữu Dực làm trưởng ban, Bộ Nội vụ thành lập Vụ 8 do thứ trưởng Lê Tất Đắc điều hành; tham gia triển khai kế hoạch có các Bộ GD-ĐT; GT-VT; Bộ Y tế; Bộ Quốc phòng cùng nhiều lực lượng khác. Yêu cầu của chiến dịch là phải đảm bảo sự thắng lợi, an toàn và tuyệt đối bí mật.
Theo kế hoạch K.8, học sinh vỡ lòng, cấp I,II được sơ tán ra các tỉnh Thanh hoá (1966); Nam Hà, Thái Bình, Ninh Bình (1967); trường sư phạm sơ tán ra Đông triều Quảng Ninh. Riêng trường cấp 3 Vĩnh Linh, địa điểm được chọn là huyện Tân kỳ tỉnh Nghệ An. Từ ngày 31.8.1967, một số học sinh cấp 3 Vĩnh Linh được giao nhiệm vụ cùng các thầy cô giáo cấp 1,2 đưa học sinh từ vỡ lòng đến lớp 7 của Vĩnh Linh và các huyện phía nam (Gio linh, Cam lộ, Triệu phong, Hải lăng) sơ tán ra các tỉnh ngoài với yêu cầu: Đưa học sinh cấp dưới đến nơi phải trở về tập kết tại Tân kỳ Nghệ an. Cũng có trường hợp giữa đường sơ tán, thực hiện công tác bàn giao rồi học sinh cấp 3 Vĩnh Linh hành quân lên Tân Kỳ. Không thể kể hết những nỗi gian khổ hy sinh của thầy cô giáo, anh chị học sinh cấp 3 khi đưa gần 20 ngàn học sinh tập kết an toàn ở các tỉnh bạn. Có thể nói, học sinh trường cấp 3 Vĩnh Linh đã góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch K.8.
Để chuẩn bị cho việc sơ tán ra Tân Kỳ – Nghệ An theo kế hoạch của Ban chỉ đạo, lãnh đạo trường cấp 3 Vĩnh Linh đã cử đoàn tiền trạm gồm các thầy: Lê Văn Khinh, Trần Viết Lưu, Trần Văn Bổng, Nguyễn Sĩ Đạm,Vũ Hùng. Sau khi khảo sát thực địa, và tham khảo ý kiến lãnh đạo huyện Tân Kỳ, đoàn khảo sát đã chọn 3 xã Hương sơn – Nghĩa hoàn và Nghĩa thái làm địa điểm sơ tán.
Tân Kỳ là huyện miền núi thấp được thành lập từ năm 1960, gồm các xã được tách từ 3 huyện Đô Lương, Nghĩa Đàn, Anh Sơn . Nhân dân Tân Kỳ gồm dân tộc Kinh,dân tộc Thái, Thổ . Đây là địa danh lịch sử gắn với các cuộc kháng chiến chống xâm lược oai hùng của dân tộc, là điểm sơ tán lý tưởng đối với trường cấp 3 Vĩnh Linh.
      Ngày 22 tháng 8 năm 1967, đoàn xe chở học sinh cấp 3 Vĩnh Linh rời quê hương. Không thể đi theo đường quốc lộ do địch đánh phá ác liệt, đoàn xe phải chia thành nhiều tốp, di chuyển theo các trạm: Bảo Ninh – Phương Xuân – Xóm Cồn – Tiến Hoá – Kỳ Lâm – chợ Cồn... mỗi trạm phải nghỉ 2,3 ngày, di chuyển vào ban đêm, phải vượt qua những trọng điểm ác liệt, trèo đèo Mồng Gà, vượt suối Kỳ lâm... Ở tại bến đò Chợ Tràng, Đức Thọ – Hà Tĩnh, ngày 24 tháng 9 năm 1967, đoàn công tác của trường bị máy bay ném bom, các thầy Đào Tâm Điền, Nguyễn Xuân Tứ và học sinh Trần Thanh Thiển hy sinh, thầy Lê Thanh Tuân bị thương nặng. Ở đoàn khác, thầy Nguyễn Cát hy sinh tại Kỳ Giang – Kỳ Anh – Hà Tĩnh.
Đến giữa tháng 11. 1967, toàn bộ CBGV và học sinh tập kết tại các xã Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Hương Sơn của huyện Tân Kỳ – Nghệ An
Ở Hương Sơn: thầy trò trú tại bến Hới và nông trang Lê Xuân Đào, có 7 lớp do thầy Lê Văn Khinh làm phân hiệu trưởng
Ở NghĩaThái: thầy trò trú tại làng Giang; ở Nghĩa Hoàn, trú tại thôn Thuận yên, đội Tân yên thuộc nông trường Sông Con, làng Cừa, làng Thắm, có 13 lớp do thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành phụ trách.
 Năm học 1967-1968, thầy trò sống trong nhà dân, được sự cưu mang giúp đỡ đầy tình nghĩa của đồng bào các xã Hương sơn, Nghĩa thái, Nghĩa hoàn, nông trường Sông Con. Ban giám hiệu của trường đóng tại nhà cụ Kiểm Duyên trong thời gian hơn 1 năm. Những gia đình như ông Cu Thuần, Chắt Bá, Chắt Ngô, cu Quế, ông Cảnh... luôn sống trong ký ức các thầy bởi tình nghĩa sâu nặng đùm bọc đối với thầy trò trường cấp 3 Vĩnh Linh.
Vào năm học, thầy trò khẩn trương bắt tay vào công việc: lên rừng chặt gỗ nứa, măng đắng, bứt tranh về dựng lớp học, triển khai kế hoạch xây dựng khu nội trú, hiệu bộ. Do sơ tán và chuẩn bị cho năm học mới nên năm học 1967-1968, trường vào học muộn so với lịch của Bộ 3 tháng. Song với quyết tâm hoàn thành chương trình, kịp với kỳ tuyển sinh đại học, thầy trò tranh thủ mọi thời gian, ưu tiên trước hết cho khối 10 nên năm học vẫn kết thúc đúng với lịch của Bộ. 94,7% học sinh tốt nghiệp, trên 98% học sinh lên lớp. Nhiều học sinh học giỏi, đạt kết quả cao như Lê Thưởng, Trần Đức Vân, Hồ Sơn Lâm, Nguyễn Thị Huệ, Thái Lãm, Võ Thị Kim Liên, Lê Hữu Việt, Trần Vui, Võ Don, Nguyễn San, Nguyễn Văn Giáo...
Năm học 1968 – 1969: Do 2 phân hiệu ở cách nhau quá xa bất lợi cho công tác chỉ đạo nên lãnh đạo trường quyết định tập trung về xã Nghĩa hoàn. Đó là điểm tập trung lý tưởng bởi sự an toàn: 3 phía bao bọc là núi, địa hình bằng phẳng, nhân dân địa phương quan tâm đùm bọc giúp đỡ trường.... Thầy trò tích cực triển khai xây dựng khu nội trú, hiệu bộ với sự giúp sức của đồng bào các xã thuộc K10 trong 3 tháng hè trong điều kiện khó khăn nhiều bề cộng với sự khắc nghiệt của khí hậu miền núi. Gỗ lèn Voi, măng đắng, nứa, tranh Gia Xuân – Tân Xuân được khai thác để dựng nhà ở, lớp học. Với ý chí quyết tâm, tinh thần sáng tạo, đầu năm học nhà trường chuyển hẳn ra ở khu nội trú khang trang, bề thế. Khu nội trú nhà trường năm học 1967 – 1968 gồm:
 – Khu Hiệu bộ đóng ở rú Cẩu, đồng Mưng giáp với đội Tân Yên, xóm Thuận Yên (Nghĩa Hoàn); Rú Mồ (Nghĩa Thái)
 – Nhà ở nội trú của học sinh được phân bố ở nhiều khu vực: Cồn Toàn (giáp Nghĩa thái); Rú Mồ; Lò sấy cà phê thuốc lá (nông trường sông Con).
 – Các phòng học đặt ở khu vực Rú Mồ, Lò sấy nông trường Sông Con.
Về tổ chức và quy mô nhà trường:
Lãnh đạo nhà trường gồm có Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành, thầy bí thư Đảng bộ kiêm phó Hiệu trưởng Trần Đình Kham; thầy Phó Hiệu trưởng Lê Văn Khinh và thầy Nguyễn Bá Tân; thầy Nguyễn Công Lân làm Thư ký công đoàn; thầy Đinh Văn Khấu làm Bí thư Đoàn trường.
Đội ngũ GV có khoảng 45 người cùng với 27 nhân viên hành chính quản trị và 68 cấp dưỡng là đồng bào K.10 được điều động từ các xã.
 Toàn trường có 23 lớp (5 lớp 10, 5 lớp 9, 13 lớp 8). Khối 8,9 học ở Rú Mồ, lớp 10 học ở làng Cừa và khu vực cạnh lò sấy cà phê, thuốc lá của nông trường Sông Con.
 Cuộc sống nội trú đối với một trường như cấp 3 Vĩnh Linh có nhiều điều phức tạp. Từ tổ chức ăn ở, sinh hoạt của học sinh đến việc tổ chức dạy và học cùng những hoạt động khác đòi hỏi lãnh đạo nhà trường phải chỉ đạo thật sát, chặt chẽ, đội ngũ thầy cô giáo, nhân viên phục vụ phải hết sức tâm huyết gắn bó quan tâm đến học sinh. Trong cuộc sống nội trú xa quê hương gia đình, tình thầy trò, tình bạn đã giúp học sinh các khối lớp vươn lên trong học tập và tu dưỡng. Thầy trò qua 2 năm đã đủ sức đứng vững trên đất Tân kỳ. Sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng: Nhà trường được cung cấp hệ thống thiết bị khá đủ để dạy và học; học sinh được cung cấp lương thực phẩm, quần áo, sách vở, đường sữa.... Trường tổ chức kết nghĩa với các trường: cấp 3 Đô Lương, Thanh Chương, Diễn Châu, Yên Thành, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Hưng Nguyên... đã nhận được sự động viên cực kỳ quý báu, đầy tình nghĩa từ các trường bạn. Đã có nhiều cuộc giao lưu văn nghệ, bóng đá, bóng chuyền thắm thiết nghĩa tình giữa trường cấp 3 Vĩnh Linh với các trường bạn.
 Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, BGH nhà trường, tập thể CBGV và học sinh đã tổ chức phong trào thi đua sôi nổi, chất lượng đạo đức văn hoá tiếp tục được duy trì tốt, vị trí và uy tín của trường không ngừng được nâng cao. Các đoàn kiểm tra của Bộ Giáo dục, Ty Giáo dục Nghệ an, lãnh đạo huyện Tân kỳ khẳng định trường cấp 3 Vĩnh Linh là đơn vị tiên tiến xuất sắc, hiếm có một trường nội trú nào thầy trò gắn bó quyết tâm vượt lên mọi thử thách để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học, cưu mang đùm bọc nhau trong hoàn cảnh sơ tán. Mãi mãi học sinh trường cấp 3 Vĩnh Linh trong những năm tháng sơ tán ở Tân kỳ không thể quên hình ảnh các thầy thay nhau mặc áo bông để lên lớp, đêm đêm BGH, thầy cô giáo chủ nhiệm kiểm tra, động viên học sinh học tập, gương thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành và tập thể các thầy cô, cán bộ hành chính quản trị không quản hôm sớm chăm lo từng bữa ăn, buổi học của HS, sự lúng túng, khổ sở của các thầy giáo khi học sinh nữ mắc bệnh lạ lúc bấy giờ chưa có cách chữa đặc hiệu....Nhiều học sinh còn nhớ bài hát “Khúc ca chia tay”của thầy Nguyễn Trung Hữu với những câu rưng rưng lòng:
“Nhớ nhớ nhé, đừng quên những ngày cùng nhau sống gian lao; những ngày đầy vơi no đói bát cơm nghèo; mà lòng phơi phới ca vang khắp nương đèo; quê hương yêu dấu nhớ mong ta trở về...”
Các khối lớp học sinh chăm chỉ học tập cần cù lao động, say mê các hoạt động ngoài giờ, vì vậy tạo được chất lượng giáo dục cao. Trong năm học chưa xảy ra hiện tượng vi phạm nghiêm trọng nào(trừ việc một số học sinh do nghịch ngợm vào hái trộm cam của nông trường bị phê bình nhắc nhở). Nhiều tấm gương điển hình trong học tập tu dưỡng như Nguyễn Thị Thu Liên (lớp 9D năm học 68-69) bị khớp nặng phải nghỉ học thường xuyên song vẫn vươn lên đạt danh hiệu học sinh giỏi được báo cáo điển hình ở nhiều nơi. Nhiều học sinh xuất sắc như Trần Như Thuộc, Phùng Xuân Thọ. Lê Văn Thọ, Đoàn Xuân Lộc, Trần Văn My, Nguyễn Thị Thanh Hương, Lê Thị Liên, Nguyễn Cường Thịnh, Trần Công Quyền, Cao Viết Sinh, Thái Quyết Thắng, Nguyễn Văn Thận...là niềm tự hào của trường cấp 3 Vĩnh Linh.
 Cuối năm học 1968-1969: 100% học sinh lên lớp, 80% lớp 10 được xét tuyển vào các trường ĐH-CĐ, nhiều học sinh được xét đi học nước ngoài.
            Năm học 1969-1970: Chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày càng ác liệt; quê hương Vĩnh Linh phải chịu đựng sự huỷ diệt của kẻ thù hơn bao giờ hết. Dân tộc phải chịu nỗi đau: Bác Hồ kính yêu qua đời ngày 2-9-1969. Biến đau thương thành hành động cách mạng, thầy trò trường cấp 3 Vĩnh Linh tiếp tục nỗ lực phấn đấu triển khai năm học mới
Qui mô trường lớn dần với số lượng học sinh và đội ngũ CBGV đều tăng vọt. Điều này đồng nghĩa với việc phải mở rộng khu nội trú của học sinh cũng như khu Hiệu bộ.
 – Về tổ chức nhà trường: BGH nhà trường có thêm thầy Vũ Đoá và cô Trần Thị Hồng được bổ nhiệm làm PHT; thầy Trần Đình Kham tiếp tục làm bí thư Đảng bộ, thầy Trần Viết Lưu làm Thư ký Công đoàn, thầy Nguyễn Trường Quảng làm bí thư Đoàn trường. Các tổ chuyên môn: Văn – Toán – Lý – Hoá – Sinh – XH. Hội đồng sư phạm được bổ sung một đội ngũ đông đảo giáo viên trẻ, sung mãn về thể lực, trí tuệ và nhiệt huyết, mới về trường đã nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống sơ tán nội trú của học sinh, phát huy vai trò trong hoạt động chuyên môn.
 – Các khối lớp:
Lớp 8: Nhà trường có trách nhiệm nhận tất cả số học sinh K.8 tốt nghiệp lớp 7 ở các tỉnh ngoài vào với số lượng khá đông. Biên chế lớp từ 8A đến 8R (16 lớp). Sơ tán ở các tỉnh bạn, học sinh được sự đùm bọc cưu mang của nhân dân, nay vào sống trong môi trường nội trú nên các em không khỏi bỡ ngỡ những buổi ban đầu. Tuy nhiên khối học sinh lớp 8 hoà đồng rất nhanh vào không khí nội trú. Trong 16 lớp, trường tổ chức 2 lớp chọn: Lớp Toán do các thầy Nguyễn Văn Thao, Nguyễn Trọng Mại làm chủ nhiệm; lớp Văn do thầy Nguyễn Khuân làm chủ nhiệm học sinh của 2 lớp chọn sau này trưởng thành, rất nhiều người thành đạt, có nhiều đóng góp xuất sắc` cho đất nước và quê hương .
Lớp 9 có 10 lớp, lớp 10 với 5 lớp vẫn duy trì nền nếp hoạt động nội trú
Với 31 lớp, trường cấp 3 Vĩnh Linh là trường nội trú lớn nhất miền Bắc. Lúc bấy giờ, trong điều kiện chiến tranh, dù Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm săn sóc, cố gắng đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt cần thiết song đời sống của thầy trò còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, lãnh đạo trường chỉ đạo phải tháo gỡ khó khăn về đời sống bằng biện pháp tổ chức tăng gia sản xuất. Nhiều bãi ngô, vườn rau xanh tốt được các lớp tích cực trồng và chăm bón, nhiều đàn gà, chuồng lợn đã giải quyết phần nào khó khăn và quan trọng hơn là đã tạo được không khí nội trú hết sức sôi nổi, cuốn hút thầy trò tham gia.Chất lượng giáo dục toàn diện tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Trong suốt năm học, đội ngũ thầy cô giáo tạo được không khí hoạt động chuyên môn sôi nổi, chất lượng cao.Trong các thế hệ GV đều xuất hiện những gương điển hình như các thầy cô: Nguyễn Khuân, Nguyễn Bành Thái, Lê Mậu Đạt (Văn); Lê Khắc Tương, Nguyễn Trọng Mại, Nguyễn Văn Thao, Thái Xuân Long, Hoàng Đức Ngọc (Toán); Nguyễn Đại Giởn, PhạmVăn Hoặc (Lý); Lê Thanh Tuân, Nguyễn Hữu Yêm (Hoá); Nguyễn Đình Sơn (Sinh); Trần Quốc Toản, Vũ Hùng (Sử); Hồ Thanh Đạm (Thể dục)...góp phần khẳng định vị trí đầu đàn của đội ngũ GV trường cấp 3 Vĩnh Linh.
Sự phấn đấu vươn lên trong học tập và rèn luyện của các tập thể học sinh mang tính đồng đều, sôi nổi hiếm có ở những trường nội trú khác lúc bấy giờ. Dưới sự tổ chức chỉ đạo của BGH, đội ngũ thầy cô giáo chủ nhiệm, các khối lớp xây dựng và thực hiện hết sức nghiêm túc nền nếp học tập và các hoạt động bề nổi. Chất lượng học tập tiếp tục được giữ vững, rất ít có trường hợp vi phạm nội quy nhà trường cũng như các sai phạm khác đến mức phải kỷ luật. Bên cạnh đó, phong trào văn nghệ – TDTT sôi nổi tạo được không khí hào hứng cuốn hút thầy trò cùng tham gia. Chiều chiều, những sân bóng đá, bóng chuyền không bao giờ vắng bóng người chơi, những đêm hội diễn văn nghệ có chất lượng nghệ thuật cao với những màn hợp xướng (Tổ quốc, Người Hà Nội, Đường về Khe Sanh...), những vở kịch như “Ham lét”, “Ga loa”, “Rừng xà nu”... hấp dẫn khán giả chẳng hề thua kém đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.
 Góp phần làm nên chất lượng nhà trường phải kể đến đội ngũ cán bộ nhân viên phục vụ: Từ năm học 69 – 70, ngoài số CBNV biên chế, một đội ngũ đông đảo cán bộ cấp dưỡng được điều từ các xã lên, đảm bảo mỗi lớp có 2 cấp dưỡng. Học sinh không phải lo lắng quan tâm nhiều đến việc ăn ở, có điều kiện tập trung thời gian cho học tập.
 Kết quả cuối năm học: Trên 99% học sinh lên lớp, 98% học sinh tốt nghiệp, khá đông học sinh được ra nước ngoài học tập.
            Từ năm 1971 – 1973, nhà trường tiếp tục xây dựng và phát triển trong bối cảnh lịch sử: Hội nghị Pari diễn ra phức tạp, quân dân ta ở hai miền Nam Bắc lập được chiến công vang dội, giải phóng Quảng Trị, bắn rơi pháo đài B.52 của giặc Mỹ trên bầu trời Vĩnh Linh, Hà Nội làm đà tiếp sức cho hội nghị Pari. Hơn lúc nào hết Tổ quốc cần có sự bổ sung lực lượng của tuổi trẻ tham gia lực lượng vũ trang.
Từ năm học 1971-1972, quy mô trường lên tới 34 lớp, tập trung trên một địa bàn hẹp, có nhiều khó khăn trong quản lý cũng như sự an toàn trong điều kiện chiến tranh quy mô trường lên tới 34 lớp. Để phân tán lực lượng, trường tách làm 2 phân hiệu: Phân hiệu 1 vẫn ở chỗ `cũ; Phân hiệu 2 chuyển lên Yên phúc (nằm giữa 2 xã Nghĩa Hoàn và Nghĩa Phúc). Lại một lần nữa thầy trò lên rừng chặt gỗ tre nứa, bứt tranh làm nhà xây dựng phân hiệu mới. Lần này nhà trường có kinh nghiệm hơn nên sau mấy tháng hè 1971, phân hiệu 2 với các dãy nhà ở, phòng học khang trang được hoàn thành chuẩn bị cho năm học mới. Năm 1972, thầy hiệu trưởng Nguyễn Hữu Bành được điều về công tác ở Khu vực Vĩnh Linh, thầy Trần Đình Kham được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, thầy Vũ Đoá làm phó hiệu trưởng kiêm Bí thư Đảng bộ.
Tiếp tục phát huy vị thế nhà trường trên quê hương Xô viết, từ 1971-1973, chất lượng nhà trường tiếp tục được giữ vững, xuất hiện nhiều gương học sinh học giỏi, phấn đấu tốt như Lê Hữu Phúc, Lê Mạnh Thạnh, Trần Duy Tạo, Trần Trung Dũng, Trang Dung, Hồ Quốc Hùng, Lê Thị Minh Hiền...Đội ngũ GV tiếp tục thể hiện tốt khí thế phong trào thi đua “Hai tốt”. Lực lượng giáo viên trẻ tràn đầy năng lực và nhiệt huyết được tăng cường, nhiều giáo viên phát huy tốt khả năng được đồng nghiệp và học trò tin yêu như Lê Mậu Đạt, Ngô Xuân Thảo, Nguyễn Thị Lê, Nguyễn Văn Hoà, Lương Thị Ái...
Để đóng góp sức lực, nhiệt tình và trách nhiệm của tuổi trẻ trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, giải phóng Miền Nam, nhiều học sinh đã lên đường nhập ngũ: Năm 1971, 32 học sinh đã gia nhập lực lượng Công an vũ trang; ngày 15 tháng 4 năm 1972, 181 học sinh chưa kịp thi tốt nghiệp lớp 10 đã tình nguyện về quê hương chiến đấu. Trong đợt tình nguyện này, 100% học sinh viết đơn tình nguyện thể hiện nhận thức sâu sắc về trách nhiệm cũng như tình cảm đối với quê hương đất nước, trong đó có những lá đơn viết bằng máu còn được lưu giữ tại phòng truyền thống nhà trường; có những lá đơn viết b