Đặt Trường PTTH Vĩnh Linh làm trang chủ
Hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập trường THPT Vĩnh Linh
Lớp 12

Bài văn được điểm 10 kỳ thi đại học của em Nguyễn Thị Thu Trang

 Đề thi văn khối D:

 Câu 1:

    Anh chị hãy trình bày những nét chính trong sự nghiệp văn thơ của Xuân Diệu.

 Câu 2:

 Phân tích vẻ đẹp cuả tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của các nhân vật: Trang, người vợ nhặt, bà cụ tứ trong truyện ngắn vợ nhặt  ( Kim Lân )

 Câu 3:

 Bình giảng đoạn thơ sau trong bài kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu:

   Tiếng thơ ai động đất trời

   Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

   Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du

 Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

   Hỡi người xưa của ta nay

  Khúc vui xin lại so dây cùng người

 Câu 1:

   Xuân Diệu (1916 – 1985) – một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác thật lớn lao và rất có giá trị. Hơn 50 năm lao động miệt mài trong thế giới nghệ thuật ấy, con người và thơ văn của xuân Diệu đã có sự chuyển biến rõ rệt từ một nhà thơ lãng mạn thành nhà thơ cách mạng. Đó là bươc chuyển tất yếu của một tri thức yêu nước, một tài năng nghệ sĩ. Thơ văn Xuân Diệu có đóng góp lớn vào quá trình phát triển của văn học Việt Nam. Có thể tìm hiểu hiểu sự nghiệp văn học của nhà thơ qua thơ và mvăn xuôi.

 Về lĩnh vực thơ ca, chúng ta có thể tìm hiểu qua hai giai đoạn chính: trước và sau cách mạng tháng 8.

 Trước cách mạng tháng tám,  Xuân Diệu là một nhà thơ lãng mạng. Các tác phẩm chính: tập thơ “ thơ thơ ( 1938) và “gửi hương cho gió” (1945). Nội dung của thơ Xuân Diệu trong thời kì này là: niềm say mê ngoại giới, khát khao giao cam trực tiếp, cháy bỏng, mãnh liệt với cuộc đời (“vội vàng”, “giục gia”)nỗi cô đơn rợn ngợp của cái tôi bé nhỏ giữa dòng thời gian vô biên, giữa không gian vô tận(“lời kĩ nữ”). Nỗi ám ảnh về thời gian khiến nhà thơ nảy sinh một chiết lí về nhân sinh: lẽ sống vội vàng

 (“ vội vàng”) nỗi khát khao đến cháy bỏng được đắm mình trọn vẹn giữa cuộc đời đầy hương sắc và thể hiện nỗi đau đớn, sót xa trước khát vọng được lãng quên thật phủ phàng trước cuộc đời(“dại khờn”, “nước đổ lá khoai”) sau cách mạng, thơ Xuân Diệu đã vươn tới chân trời nghệ thuật mới,  nhà hơ đã đi từ ‘ cái tôi bé nhỏ đến cái ta chung của mọi người”(p. Eluya). Xuân Diệu giờ đây đã trở thành một nhà thơ cách mạng say mê, hăng say hoạt động và ông đã có thơ hay ngay trong giai đoạn đầu. Xuân Diệu chào mừng cách mạng với” ngọn quốc kì” (1945) và” Hội nghị non sông”(1946) với tấm lòng tràn hân hoan trước lẽ sống lớn, niềm vui lớn của cách mạng.

 Cùng với sự đổi mới của đất nước, Xuân Diệu có nhiều sự biến đổi về tâm hồn và thơ ca. ý thức của cái tôi công dân, của một nghệ sĩ, một trí thức yêu nước trước thực tế cuộc sống đất nước đã đem đến cho ông những nguồn mạch mới trong cảm hứng sáng tác. Nhà thơ hăng say viết về Đảng, về Bác Hồ, về Tổ quốc Việt Nam về quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và công cuộc thống thất nước nhà. Các tấc phẩm tiêu biểu: Tập “riêng chung”(1960) “hai đợt sóng”(1967) tập “hồn tôi đôi cánh”(1976)…

 Từ những năm 60 trở đi, Xuan Diệu tiếp tụcc viết thơ tình. Thơ tình Xuân Diệu lúc này không vơi cạn mà lại có những nguồn mạch, cảm hững mới. Trước cách mạng, tình yêu trong thơ ông hầu hết là những cuộc tình xa cách, cô đơn, chia li, ta vỡ. Nhưng sau cách mạng, tình yêu của hai con người ấy không còn là hai vũ trụ bé nhỏ nửa mà đã có sự hòa điệu cùng mọi nười. Tình cảm lứa đôi đã hòa quyện cùng tình yêu tổ quốc. Xuan Diệu nhắc nhiều đến tình cảm thủy chung, gắn bó, hạn phúc, sum vày chứ không lẻ loi, đơn côi nửa”dấu nằm”, “ biển”, “giọng nói”, “đứng chờ em”).

 Về lĩnh vực văn xuôi có thể nói Xuân Diệu quả thật tài tình. Bên cạnh tố chất thơ ca bẩm sinh như thế, Xuân Diệu còn rất thành công trong lĩnh vực văn xuôi:”trường ca”(1939) và”phấn thông vàng”(1945). Các tác phẩm này được xuân Diệu viết theo bút pháp lãng mạn nhưng đôi khi ngòi bút lại hướng sang chủ nghĩa hiện thực(“cái hỏa lò”, “tỏa nhị kiều”).

 Ngoài ra, Xuân Diệu còn rất tài tình trong việc phê bình văn học,  dịch thuật thơ nước ngoài. Các tác phẩm tiêu biểu:”kí sự thăm nước Hung”, “triều lên”, “cá nhà thơ cổ điển Việt Nam”, “dao có mài mới sắc”.

 Dù ở phương diện nào Xuân Diệu cũng có đóng góp to lớn với sự nghiệp văn học Việt Nam Ngũ Ngọc Phan từng nhận xét: “Xuân Diệu là người đem nhiều cái mới nhất trong thơ ca Việt nam”. Sự đóng góp của Xuân Diệu diễn ra đều đặn và trọn vẹn trong các thể loại và các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Chính vì thế có thể nói rằng Xuân Diệu có thể là một nhà thơ lớn một nhà văn hóa lớn.

 Câu 2:

  Nạn đói và khủng khiếp năm 1945 đã hằn in trong tâm chí Kim Lân-một nhà văn hiện thực có thể là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi về với “ thuần hậu phong thủy” ấy. Ngay sau cách mạng, ông đã bắt tay viết ngay tiểu thiết “ xóm ngụ cư”.

 Khi hòa bình lập lại năm 1945, nỗi trăn trở thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng, truyện ngắn”vợ nhặt” đã ra đời. Trong lần này, kinh lân đa thực sự đem lại thiên truyện của mình một kám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm, đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của người nông dân nghèo tiêu biểu như” trang”, “người vợ nhặt” và bà cụ tứ. Thiên truyện thể hiện rất thành công khẳ năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là kinh lân đã khám phá ra diễn biến tâm lí thật bât ngờ.

 Trong một lần phát biểu, Kim Lân từng nói “ khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự sự khốn cùng và vi thảm. Khi viết về năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý nghĩa khác, trong hoàn cảnh khốn cùng,  dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vãn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, vẫn tinh tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”. Và điểm sáng mà nhà văn muốn đem vào tác phẩm chính là chỗ đó. Đó chính là tình người và niềm hi vọng về cuộc sống, về tương lai của những con người kề cận với cái chết. Bằng cách dẫn chuyện, xây dựng nên tình huống “vợ nhặt” tài tình kết hợp với khả năng phân tích diễn biến tâm lí nhân vật thật tinh tế và sử dụng thành công ngôn ngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị,  đời thường nhưng có sự chọn lọc kĩ lưỡng ấy, nhà văn đã tái hiện trước măt ta một không gian năm đói thật thảm hại thê lương, trong đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bóng ma vật vờ, lặng lẽ, giữa tiếng hờ khóc và gào thét kinh hoàng của đám quạbằng tấm lòng đôn hậu chân thật của nhà văn đã  gửi gắm vào trong không gian tối đen như mựcấy những mầm sống đang cố vươn lên đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêu thương bình dị nhưng rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anh tràng, người vợ nhặt và bà cụ tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùng đám người đói phá kho thóc nhật  cuối thiên ruyện.

 Có thể nói,  kim lân đã thật xuất sắc khi dựng lên tình huống “nhặ vợ” của anh cu tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bọc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàng nhẫn với nhau khi miếng ăn của một người chưa đủ thì là sao có thể đèo bồng thêm người này, người kia. Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau,  dễ ít kỉ hơn là vị tha và người ta rất dễ đối sử tàn nhẫn,  làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn kim lân lại khám phá ra một điều ngược như ở các nhân vật cu tràng, người vợ nhặt, bà cụ tứ. Chúng ta từng kinh hãi trước “xác người chết đói ngập đầy đường” “người đói xanh xám như những bóng ma” trước “ không khí bốc lên mùi hôi của rác rưởi và mùi ngây của xác người”, từng ớn lạnh trước đàn quạ kêu từng hồi thê thiết” ấy nhưng lạ thay chúng không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của cu Tràng, cụ Tứ và cả người vợ của Tràng nữa. Một anh thanh niên với cái xóm ngụ cư ấy như Tràng, một con người một thân xác vạm vỡ, lực lưỡng mà dường như ngờ nghệc kệch và xấu xí  ấy lại chứa đựng bao nghĩa tình cao đẹp. “ Cái đói đã tràn đến xóm từ lúc nào”, vậy mà Tràng vẫn đèo bồng thêm một cô vợ trong khi anh không biết cuộc đời của mình ra sao. Tràng thật liều lĩnh. Và ngay cô vợ Tràng cũng thế. Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ thành một gia đình. Điều ấy thật có lí xót thương vô cùng. Và dường như lúc ấy trong con người Tràng bật lên một niềm sống, một khát vọng yêu thương chân thành. Và dường như hắn đang ngầm chứa đựng một ao ước thiết thực về sự đầm ấm của tình cảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi. Hành động của Trang dù vô tình, không có chủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều đó cũng hé mở cho chúng ta thấy tình cảm của một con nười biết yêu thương, cưu mang, đùm bọc những con người cùng cảnh ngộ.  Nhưng một lẽ đương nhiên, Tràng đã ngỡ ngàng, hắn đã “sờ sợ”, “ngờ ngợ”, “ngỡ ngàng” như không phải nghưng chính tình cảm vợ chồng ấy lại củng cố nhên nhóm ngọn lửa tình yêu và sống có trách nhiệm trong tình cảm trách nhiệm, trong hắn tình cảm vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng thay đổi hẳn. Từ một anh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn Tràng đã sớm thành một người chồng thật sự khi nhận hạnh phúc ấy như một cái gì đó cứ ôm ấp mơn man khắt da thịt Tràng tựu hồ như có bàn tay vuốt nhẹ sống lưng. Tình yêu, hạnh phúc ấy kiến trong hạnh phúc Trang như quên đi tất ca quên cả đói rét đang đeo đuổi quên cả tháng ngày đã qua. Và Trang đã ước ao hạnh phúc, mạch sống của một người đàn ông trong Trang đã  trở dậy hắn có nhưng thay đổi thật bất ngờ nhưng thật logic. Những thay đổi ấy không gì khác noài tâm hồn đôn hậu, chất phác và giàu tình yêu hay sao? Trong con người của tràng khi trở dậy sau khi đón nhận tình yêu thật khác lạ. Tràng không còn là anh tràng ngày trước nữa mà Trà đã trở thành một con người có hiếu, một người chồng đầy trách nhiệu dù là trong ý nghĩ. Thấy mẹ chồng nàng dâu quét trước nhà cửa, hắn dã bừng bừng thèm muốn một hạnh phúc “hắn thấy hắn yêu thương căn nhà hắn thật lạ lùng” hắn thấy hắn có trách nhiệm với vợ con sau này. Hắn cũng xăm xắp ra sân dọn dẹp nhà cửa. Hành động cử chỉ ấy của Tràng đâu phải là chuyện bình thường mà đó là sự biến chuyển lớn. Chính tình yêu của người vợ, mẹ con hòa thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn một ước vọng hạnh phúc, về niềm tinh cuộc sống sẽ đổi thay khi hắn nghĩ về đám người đó và lá cờ đỏ bay phấp phới. Rồi số phận cuộc đời hắn,  vợ hắn và cả mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi. Hắn tin thế.

 Nạn đói ấy không thể ngăn nổi tình người. Đêm tối ấy sẽ qua đi để đón ánh sáng của tự do đang ở phía trước, trước sức mạnh của cách mạng. Một lần nữa, Kim Lân không ngần ngại gieo rắc hạnh phúc, niềm tin ấy trong các nhân vật của mình. Người vợ nhặt không phải ngẫu nhên xuất hiện trong thiên truyện vợ nhặt. Thị xuất hiện đã làm thay đổi xóm ngụ cư nghèo nàn, tăm tối ấy đã làm cho những gương mặt u tối rạng rỡ hẳn lên. Từ con người chao chát đã trơ thành cô vợ hiền thục, đảm đag là cả một quá trình biến đổi. Điều gì kiến Thị biến đổi như thế. Đó chính là tình người, tình yêu. Thị tuy theo Tràng chỉ vì bốn bát banh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng ta không khinh miệt Thị. Nếu có trách thì hướng vào xã hội thực dân phong kiến kia bóp ghẹn quyền sống của con người. Thị xuât hiện không tên tuổi, quê quán trong tư thế “ vân vê tà áo đã rách bợt”, điệu bộ

 trong thạt thảm hại nhưng chính Thị đã gieo mầm sống cho Tràng, /*2làm biến đổi tất cả từ không khí xóm ngụ cư đến không khí gia đình. Thị đã đem một nguồn sinh khí mới, nguồn sinh khí ấy chỉ có khi con người Thị dung chưa một niềm tin, một ước vọng cao cả vào cuộc sống tương lai. Thị được miêu tả khá ít nhưng đó lại là nhân vật không thể hiếu trong tác phẩm. Thiếu thị anh Tràng vẫn là anh Tràng ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn chìm trong đau khổ. Kim Lân thật thành công khi xây dựng nhân vật này để góp tiếng ca ngợi của vẻ đẹp tình người, niềm tin đang ở phía trước những con người đói khổ này. Và ngạc nhiên, khi nói đến ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩa đến Tràng và người vợ Kim Lân lại khám phá ra một nét độc đáo vô cùng tình cảm, ước vọng ở cuộc đời ấy lại được tập trung miêu tả khá kỉ ở nhân vật bà cụ Tứ. Đến nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ ngòi bút vững vàng, già dặn của mình trong bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật. Bà cụ Tứ đến giữa câu chuyện nhưng nếu thiếu nhân vật này, tác phẩm sẽ không có chiều sâu nhân bản. Đặt nhân vật bà cụ Tứ vào văn bản, Kim Lân đã cho chúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn đói. Bao giờ cũng thế, nhà văn muốn làm cho nhân vật nổi bật cá tính của mình đặt nhân vật ào một tình thế thật căng thẳng. Qua đó phải có sự đấu tranh không ngừng giữa các nhân vật mà độc đáo hơn là ngay chính trong nội tâm của mình. Bà cuh Tứ là một diển hình. Việc Tràng lấy vợ đã gây chấn động lớn trong tâm thức ngưòi mẹ nghèo vốn thương con ấy. Bà ngạc nhiên trước sự có mặt của một người đàn bà trong nhà mình mà lâu nay mà có lẽ chưa bao giờ  bà nghĩ đến. Hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên bà đã “cúi đầu nín lặng” hành dộng cử chỉ ấy chứa đựng bao tâm trạng. Đó lalf sự đan sen giữa nỗi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hòa lẫn vào nhau khiến bà rất căng thẳng. Sau khi thấu hiểu mọi điều bà nhìn cô con dâu “ vân vê tà áo đã vách bợt” mà lòng đầy thương sót. Bà thiết nghĩ người ta có gặp bbước khó khăn này, người ta mới lấy con mình mà con ình mới được vợ.  Và xúp động quá bà cụ đã nói một câu thôi, một câu thật sâu xa và có ý nghĩa. “ Thôi chúng mà phải duyên phải kiếp với  nhau u cũng mừng lòng”.

 Đói khổ đang vây lấy gia đình bà  cuộc sống của bà sẽ ra sao khi bà đang  ngấp nghé trước bờ vực cái chết.  Nhưng trong tâm thức người mẹ ấy, đói khổ không phải vật cản lớn. Đói rét thật nhưng trong lòng cụ  vẫn sáng lên tấm lòng chân thành. Bà cụ thương con, thương dâu và thương cho chính bản  thân mình. Bà cụ Tứ từ những nỗi lo nỗi tủi cực về gia cảnh mình vẫn không nừng bùng cháy ngọn lửa của tình người. Bà đã dang tay đón nhận đứa con dâu, lòng đầy thương xót trong nỗi tủi cực của gia cảnh vẫn ngầm chứa một sức sống thật mãnh liệt. Chính ở người mẹ ấy ngọn lửa của tình người tình thương yêu nhân loại ấy bùn cháy mạnh mẽ nhất. Trong bóng tối của đói nghèo đang vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng con mình niềm tin về cuộc sống. Bà nắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà, rồi việc sinh con đẻ cái những chuyện vui bà lão toàn nói trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại ấy. Bà đã đón nhận hạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lòng mình. Đặc biệt nồi chè cám ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tình người. Nồi chè cám nghẹn bứ cổ và đắng chát ấy lại là món quà của người đôn hậu chất chứa yêu thương. Bà lão lễ mễ bưng nồi chè cám và giới thiệu. “chè khoai đây ngon đáo để cơ”. Ơ đây nụ cười đã xen lẫn nước mắt. Bữa cơm gia đình ngày đói ở cuối thiên truyện không khỏi làm chạnh lòng chúng ta, một nỗi xót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung chứa một sự cảm phục lớn ở những con người bình thường và giản dị ấy.

 Kim Lân bằng nghệ thuật viết văn và già dặn, vững vàng đã đem đến một chủ đề cho đề tài nạn đói. Nhà văn đã khẳng định áng sáng của tình nười thật thành công ở ba nhân vật. Điều làm chúng ta trân trọng nhất dó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống một cách mạnh mẽ nhất ở những thân phận nghèo đói. Ba nhân vật: Tràng, vợ Tràng và bà cụ Tứ cùng những tình cảm,  lẽ sống cao đẹp của họ cính là điểm sáng mà Kim Lân trăn trở trong thời gian dài để thể hiện sao cho độc đáo một đề tài không mới. Tác phẩm đã thể hiện thành công nghệ thuật tả tâm lí nhân vật, khả năng dựng chuyện và dẫn chuyện của Kim Lân – một nhà văn được đánh giá là viết ít nhưng tác phẩm nào cũng có giá trị là vì lẽ đó.

“ Cái đẹp cứu vớt con người”. Vâng vợ nhặt của Kim Lân thể hiện rõ sức mạnh sức mạnh kì diệu ấy. Anh sánh của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống và nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm. Ong đã đóng góp cho văn học Việt nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một qua niệm mới tình người và lòng người. Đọc xong hiên truyện dấu nhấn mạnh mẽ nhất trong tâm hồn bạn đọc là điểm sáng tuyệt vời ấy.

 Câu 3:

  Tố hữu một nhà thơ chiến sĩ, một người thư kí trung thành trong thời đại ấy đã cùng hành trình làm cách mạng tiếp cận làm thơ ca. Thơ ca đến với ông không ngoài mục đích chính trị, phục vụ cho lí tưởng của Đảng, của cách mạng. Trong nguồn mạch về các đề tài chính trị của đất nước ấy, Tố Hữu đã tìm về với quá khứ lịch sử của ông cha một thế hệ hôm nay vọng về thế hệ cha ông xưa để đồng cảm, thấu hiểu, để tìm nguồn sinh lực mới cất bước cho cuộc kháng chiến hôm nay. Một trong những bài thơ tiêu biểu về đề tài này không thể không kể đến bài thơ “kính gửi cho cụ nguyễn Du” trong tập thơ “ ra trận”.

 Tháng 11/1965 khi giặc Mĩ bắn phá ác liệt, nhà thơ có dịp qua quê hương của Nguyễn Du và nhân kỉ niệm hai trăm năm ngày sinh của người, Tố Hữu xúc động viết lên bài thơ này. Bài thơ đã thể hiện một cách cảm nhận, suy nghĩ và đánh giá của Tố Hữu, tiêu biểu cho thế hệ hôm nay nhìn về quá khứ lịch sử của cha ông xưa và từ đó khẳng định cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.

 Trong tiếng vọng của tấc lòng tri âm, tri kỉ ấy Tố Hữu đã thốt lên:

 “Tiếng thơ ai động đất trời.

 Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

 Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du

 Tiếng thơm như tiếng mẹ ru những ngày

 Hỡi người xưa của ta nay

 Khúc vui xin lại so dây cùng Người!’

Bài thơ trừ bốn câu thơ đầu và cuối, tất cả có năm khổ thơ và ba cặp lục bát tương xứng. Bằng hình thức tập Kiều nhuẫn nhuyễn, sáng tạo, tôn ngữ trong sáng giản dị, giàu hình ảnh, những so sánh hình ảnh thật bất ngờ ấy đã diễn tả thật thành công một người con cúi đầu trước đại thi hào vĩ đại của dân tộc.

  Nguyễn Du một thi hào kì tài áy đã chắt bút lên. “ Truyễn kiều” một công trình đồ sộ và thật lớn lao, óp phần tăng giá trị đạo đức, nhận thức vào kho tàng văn học nghệ thuạt Việt Nam. Cảm khái và ngưỡng mộ trước tài năng ấy kết hợp với một tấm lòng tìm về quá khứ xưa, Tố Hữu đa viết:

Tiếng thơ ai động đất trời

 Nghe như non nước vọng lời ngàn xưa

Tố Hữu đã ca ngợi nghệ thuật nhân bản của Nguyễn Du, một tiếng thơ vang động đến hồn thiêng sông núi, đến tạo vật muôn loài. Bằng cách sử dụng lối so sánh ẩn dụ tài tình, nhà thơ đã nang cao tầm vóc giá trị thơ ca Nguyễn Du. Ong đã ví tiếng thơ ấy là “non nước’ vọng từ nàn ăm trước, của thời gian xa xưa, qua khứ. Tiếng thơ ấy vọng về trong niềm tự hào hân hoan đón nhận của một tấm lòng hậu thế muốm đền đáp tấm lòng cha ông xưa. Nỗi niềm ấy tình cảm ấy thật ngưỡng vọng. Hai câu thơ không những khái quát được tầm vóc giá trị to lớn của tài năng Nguyễn Du mà còn thể hiện sâu sắc tình cảm cao đẹp của Tố Hữu – một thế hệ hôm nay ngưỡng vọng về thế hệ qua khư của cha ông.

 Lối thơ ấy tấm lòng hân hoan của Tố Hữu lại tiếp tục mở rộng vươn xa tôứi những giá trị vĩnh cửu khác:

 Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du

 Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

Nghìn năm là khoảng thời gian của hồi tưởng, của ngưỡng vọng, của khát vọng mãnh liệt của tấc lòng tri kỉ biết ơn của thế hệ hôm nay. Đó là khoẳng thời gian của thế hệ hôm nay trả lời cho nỗi đau lịch sử của cha ông trong quá khứ. Một lần nữa cảm hứng ngợi ca chắp bút cho Tố hữu cất tiếng lòng tự hào trong khúc hát tràn đầy hân hoan, hứng khởi, trong sự ngưỡng vọng trước một thiên tài. Tiếng thơ của Nguyễn Du được ví như tiếng mẹ mà tiếng mẹ lại rất gần gũi, thân thiết quá. Đó là lời ru nhẹ nhàng, ân tình, chan chứa tình yêu thương trong ấy, gửi gắm bao ước mơ thật cao đẹp. Và vì thế tiếng thơ của nguyễn Du là tiếng ru của mẹ, ân tình, ngọt ngào, thổi vào lòng bao thế hệ, có sức mạnh thật lớn lao. Tình cảm ấy, tiếng ru ân tình ấy là lời nhắc nhở, thủn thủin cho con – thế hệ hôm nay vững bước trưởng thành.

 Tiếng lòng đồng vọng vủa cõi xưa nhập cùng thế hệ hôm nay để con lại vang lên lời ca tự hào:

 Hỡi người của ta nay

 Khúc vui xin lại so dây cùng người!

Trên trục kết cấu “xưa – nay; con – người”  cùng vang lên tiếng lòng khát khao tìm kiếm tri âm. Con sẽ cùng người hát tiếp khúc ca ấy chào đón cách mạng. Chữ cùng thể hiện đầy đủ ước vọng của chúng con cùng người. Tình cảm ấy, nghĩa cử ấy thật đáng trân trọng.

 Bằng lối tập Kiều nhuần nhuyễn, sử dụng hình ảnh có tính gợi hình, giọng điệu ân tình, ngọt ngào, đậm chất dân tộc, khổ thơ đã thể hiện trọn vẹn phong cách thơ Tố Hữu: khuynh hướng thơ trữ tình – chính trị, một giọng điệu tâm tình ngọt ngào và đạm đà tính dân tộc. Khổ thơ khép lại nhưng lại mở ra một chân trời mới, tương lai mới trong hành trình chống Mĩ hôm nay.

 Sông lam nước chảy bên đồi

 Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân

Lê Thị Chí-TT  tổ Văn

 
Các tin khác:
HỔ TRỢ TRỰC TUYẾN

Administrator Administrator

THÔNG BÁO

Hướng dẫn cập nhật thông tin cán bộ giáo viên

Học môn Hóa học trực tuyến

Thông báo danh sách hộp thư điện tử các tổ chuyên môn

Thư viện ảnh
Thời khóa biểu
Lịch thi
Xem chi tiết lịch thi ở đây
DANH SÁCH HỌC SINH THÀNH ĐẠT

Họ tên: Lê Hữu Phúc

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: UVTW Đảng-Bí thư Tỉnh uỷ Quảng trị

Họ tên: Cao Việt Sinh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Thứ trưởng Bộ KH-ĐT

Họ tên: Trần Đức Vân

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: GS-TS, nguyên Viện trưởng Viện toán học Việt Nam

Họ tên: Lê Hữu Việt

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Anh hùng lao động

Họ tên: Phan Hữu Sính

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Được truy tặng danh hiệu AHLLVTND

Họ tên: Lê Vĩnh Thử

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Đại sứ Italia

Họ tên: Nguyễn Bường

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng trị

Họ tên: Nguyễn Xuân Lý

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Chủ tịch UBND Tỉnh Thừa thiên - Huế

Họ tên: Nguyễn Đức Cường

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng trị

Họ tên: Trần Văn Chiến

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS-TS, Tổng cục phó Tổng cục dân số

Họ tên: Lê Viết Xê

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Thừa thiên - Huế

Họ tên: Võ Duy Chất

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ Quảng trị

Họ tên: Nguyễn Văn Truyền

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên PTB Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội

Họ tên: Đại tá Trần Sĩ Lừa

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Chỉ huy trưởng BCHQS Tỉnh QT

Họ tên: Đại tá Nguyễn Văn Giáo

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên chỉ huy trưởng BCHQS TT – Huế

Họ tên: Đại tá Trần Trung Dũng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Cục trưởng – Bộ Công an

Họ tên: Nguyễn Tạo

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Vụ trưởng – Bộ Tài chính

Họ tên: Trần Văn Dương

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Vụ trưởng Vụ Liên minh HTX – Bộ NN-PTNT

Họ tên: Nguyễn Thép

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Vụ trưởng – Ngân hàng NNVN

Họ tên: Trần Duy Tạo

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Cục trưởng – Bộ Giáo dục

Họ tên: Nguyễn Văn Toàn

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS, TS – Giám đốc Đại học Huế

Họ tên: Lê Hồng Hạnh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: GS, TS – Viện trưởng Viện pháp chế, Bộ Tư pháp

Họ tên: Lê Mạnh Thạnh

Thông tin: Đại Học Lạc Hồng

Thành tích: PGS,TS – PGĐ Đại học Huế

Họ tên: Trần Hành

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: TS, Hiệu trưởng Đại học Lạc Hồng

Họ tên: Lê Văn Anh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS, TS – HT ĐHSP Huế

Họ tên: Trần Thao

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên PCTHĐND Tỉnh, BT Huyện uỷ VL

Họ tên: Nguyễn Quân Chính

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PCT Tỉnh Quảng Trị

Họ tên: Lê Phước Long

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: NGND, Nguyên Giám đốc Sở GD – ĐT QT

Họ tên: Nguyễn Xuân Đức

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nhà văn, nguyên GĐ Sở VH – TT Quảng Tri

Họ tên: Nguyễn Hoa Nam

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên UVTVTU, TBTC Tỉnh uỷ QT

Họ tên: Nguyễn Hữu Thông

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở KH – CN QT

Họ tên: Thái Vĩnh Kháng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở CN QT

Họ tên: Thái Lãm

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở KH – ĐTQT

Họ tên: Nguyễn Văn Cảnh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở Xây dựng QT

Họ tên: Nguyễn Văn Đàn

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Giám đốc Sở Bưu điện QT

Họ tên: Võ Trực Linh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở TN – MT QT

Họ tên: Đào Duy Thanh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Cục trưởng Cục thuê QT

Họ tên: Nguyễn Hữu Thắng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở VH – TT – DL QT

Họ tên: Ngô Xuân Tiếu

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở Công an QT

Họ tên: Nguyễn Hoàng Linh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở Bưu chính – Viễn thông QT

Họ tên: Trương Hồng Hà

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Sở Nội vụ QT

Họ tên: Nguyễn Quốc Hoà

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Giám đốc Đài PT – TH QT

Họ tên: Hà Lực

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Bí thư Huyện uỷ Vĩnh Linh

Họ tên: Trần Hữu Chút

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Nguyên Chủ tịch UBND huyện VL

Họ tên: Hoàng Đức Thắng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: TUV, Bí thư Huyện uỷ VL

Họ tên: Lê Đức Yên

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Chủ tịch UBND huyện Vinh Linh

Họ tên: Nguyễn Văn Hùng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Chủ tịch UBND TX Đông Hà

Họ tên: Lê Quang Lanh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Bí thư, Chủ tịch Huyện Đảo Cồn cỏ

Họ tên: Nguyễn Thị Bích Hải

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS – TS, ĐH Huế

Họ tên: Nguyễn Xuân Tuyến

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS – TS, nguyên HT ĐHSP Huế

Họ tên: Lê Thị Minh Hiền

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: PGS, TS – ĐHYK Hà nội

Họ tên: Nguyễn Thành Trung

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Tổng Giám đốc IMEXCO

Họ tên: Lê Ngọc Minh

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: P. TGĐ VUSCÔ

Họ tên: Hoàng Đức Thắm

Thông tin:

Thành tích: NGƯT, Giám đốc Sở GD – ĐT QT

Họ tên: Lê Văn Thử

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Thầy thuốc ưu tú

Họ tên: Trần Kim Phụng

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Thầy thuốc ưu tú, Sở Y tế QT

Họ tên: Nguyễn Hữu Lương

Thông tin: Đang cập nhật

Thành tích: Thầy thuốc ưu tú

Họ tên:

Thông tin: Thông tin tiếp tục cập nhật

Thành tích:

DANH SÁCH ỦNG HỘ TRƯỜNG

Họ tên: Nguyễn Văn Minh

Thông tin: Hà Nội

Đóng góp: 7,000,000 VNĐ

Họ tên: Cựu học sinh ở TP Hồ Chí Minh

Thông tin: TP Hồ Chí Minh

Đóng góp: 50,000,000(VNĐ)

Họ tên: Phạm Thị Thanh

Thông tin: Học sinh cũ

Đóng góp: 30,000,000(VNĐ)

Họ tên: Tạ Hoàng Liên

Thông tin: Hs cũ-Nha Trang

Đóng góp: 1,000,000(VNĐ)

Họ tên: Ông Trần Hành

Thông tin: Đại Học Lạc Hồng

Đóng góp: 100,000,000(VNĐ)

Họ tên: Công ty Thuận Hòa

Thông tin: TT Hồ xá-Vĩnh Linh-Quảng Trị

Đóng góp: 5,000,000(VNĐ)

Họ tên: Hội Cựu giáo chức - HS ở Huế

Thông tin: TP Huế

Đóng góp: 48,000,000(VNĐ)

Liên kết
TỔNG LƯỢT TRUY CẬP